Đan sâm

0
291
views

Đan sâm còn gọi là huyết sâm, xích sâm, huyết căn. Tên khoa học Salvia multiorrhiza Bunge. Thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).

Đan sâm (Radix Salviae multiorrhizae) là rễ phơi hay sấy khô của cây đan sâm. Đan là đỏ, sâm là sâm vì rễ cây này giống sâm mà lại có màu đỏ.

Mô tả cây

Đan sâm là một loại cỏ sống lâu năm, cao 30-80cm, toàn thân mang lông ngắn màu vàng trắng nhạt. Rễ nhỏ dài hình trụ, đường kính 0.5-1.5cm, màu đỏ nâu. Thân vuông trên có các gân dọc. Lá kép, mọc đối: 3-5 lá chét, đặc biệt có thể có 7. Lá chét giữa thường lớn hơn cả. Lá kép có cuống dài, cuống lá chét ngắn có dìa. Lá chét dài 2-7.5cm, rộng 0.8-5cm. Mép lá chét có răng cưa tù. Mặt trên lá chét màu xanh, có các lông mềm màu trắng, mặt dưới màu xanh tro, cũng có lông nhưng dài hơn. Gân nổi ở mặt dưới, chia phiến lá chét thành múi nhỏ. Cụm hoa mọc thành chùm ở đầu cành hay ở kẽ lá, chùm hoa dài 10-20cm. Hoa mọc vòng, mỗi vòng 3-10 hoa thường là 5 hoa. Hoa có tràng màu xanh tím nhạt, 2 môi, môi trên trông nghiêng hình lưỡi liềm, môi dưới xẻ 3 thuỳ, thuỳ giữa có răng cưa tròn. Hai nhị ở môi dưới, bầu có vòi dài lòi ra ở môi trên. Quả nhỏ, dài 3mm, rộng l.5mm.

Mùa hoa từ tháng 5-8 (Tam Đảo) mùa quả tháng 6-9.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây này mới di thực vào ta. Hiện đang gây giống ở Tam Đảo.

Thu hoạch rễ vào mùa đông. Đào rể về rửa sạch đất, cắt bỏ cây và rễ con, phơi hoặc sấy khô.

Thành phần hoá học

Trong đan sâm có 3 chất ketone có tinh thể:

  1. Tanshinone I có công thức C18H12O3, độ chảy 231°C, tinh thể màu đỏ nâu, thêm acid sulfuric sẽ cho màu lam.
  2. Tanshinone II, C19H18O3 độ chảy 216°C, tinh thể màu đỏ, thêm acid chlohydric vào sẽ cho màu xanh.
  3. Tanshinone III, C19H20O3 độ chảy 182°C, tinh thể màu đỏ, thêm acid chlohydric sẽ cho màu nâu.

Ngoài ra còn có chất tinh thể màu vàng cryptotanshinone (kryptotanshinon) C19H20O3 với độ chảy 101°C.

Tác dụng dược lý

Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu, nhìn công thức cấu tạo thấy có tính chất của vitamin K.

Công dụng và liều dùng

Đan sâm là một vị thuốc còn dùng trong phạm vi nhân dân, để làm thuốc bổ cho phụ nữ, phụ nữ chưa chồng da vàng, ăn uống thất thường, chữa tử cung xuất huyết, kinh nguyệt không đều, đau bụng, các khớp xương sưng đau. Còn dùng chế thuốc xoa bóp.

Liều dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc.

Trong sách cổ có ghi về đan sâm như sau: “Đan sâm có vị đắng, tính hơi hàn. Vào 2 kinh tâm và can là thuốc chữa bệnh về máu dùng cho phụ nữ trước và sau khi sinh nở, kinh nguyệt nhiều ít đều dùng được, vì nó có công dụng trục ứ huyết, sinh huyết mới, vừa an thai sống, vừa cho ra thai chết, chỉ huyết (cầm máu) điều kinh, tác dụng không kém vài tứ vật – gồm đương quy, địa hoàng, xuyên khung, bạch thược (theo Lý Thời Trân – Bản thảo cương mục đời nhà Minh T.Q.). Còn có tác dụng chữa ung thũng, đơn độc, mẩn ngứa”.

Phàm không có chứng ứ huyết chớ có dùng.

Đơn thuốc có đan sâm

  1. Chữa phụ nữ kinh nguyệt không đều, hoặc sớm hoặc muộn nhiều hay ít, thai không yên, đẻ xong máu hôi ra chưa hết, đau khớp xương (Bản thảo cương mục).
    Đan sâm rửa sạch, thái phơi khô, tán nhỏ.
    Ngày uống 8g chia làm 2 hay 3 lần uống.
  2. Chữa kinh nguyệt không ra, đau đớn (Diệp Quyết Tuyền).
    Đan sâm 10g, hương phụ 6g, đương quy 10g, bạch thược 5g, xuyên khung 5g, địa hoàng 10g, nước 600ml. Sắc còn 200ml chia làm 3 lần uống trong ngày.

(Tài liệu dẫn: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – GSTS Đỗ Tất Lợi)

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here