Hoa phấn

0
214
views

Cây hoa phấn còn gọi là cây bông phấn, sâm ớt, yên chi hay hoa bốn giờ (vì nó thường nở hoa sau 4 giờ chiều). Tên khoa học Mirabilis jalapa L. (Jalapa congesla Moench, Nyctago hortensis Bot.). Thuộc họ Hoa giấy Nyctaginaceae.

Mô tả cây hoa phấn

Hoa phấn là một loại cây nhỏ, cao chừng 70cm, thân mềm, chia nhiều cành, nhẵn hay hơi có lông. Có rễ phình thành củ. Lá đơn, nguyên, hình bầu dục, hơi thuôn hình mác, phía gốc lá hơi hình tim, đầu nhọn, mọc đối. Phiến lá dài 3-9cm, cuống lá dài 1.5-3m. Hoa xếp chành 3-6 cái một ở kẽ những lá cuối cùng hay ở ngọn.

Hoa to, đều, lưỡng tính, có 2 lá bắc bao quanh và hợp ở gốc như một đài hợp. Bao hoa hình cánh, màu đỏ, trắng hay vàng, hình phễu, 5 nhị, một lá noãn, một noãn. Quả bế mang bao hoa tồn tại.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây nguồn gốc ở México (châu Mỹ) được đưa vào trồng và phát triển ở Việt Nam không rõ từ bao giờ. Thường được trồng làm cảnh vì hoa màu đẹp.

Một số nơi ở nước ta (như vùng Thanh Miện, Hưng Yên) đào lấy củ cây hoa phấn thái mỏng phơi khô dùng với tên sâm. Rễ củ mẫm, ngoài có màu đen, trong màu trắng, khi thái mỏng, phơi khô thì trên mặt những lát thái thấy những vòng đồng tâm nổi lên. Mùi nhẹ, hơi buồn nôn, vị nhạt sau hơi gây ngứa cổ. Trong bột rễ có rất nhiều calci oxalate hình tràm.

Tại một số nước (châu Mỹ) người ta dùng rễ củ của cây này bán giả một cây với công dụng làm thuốc tây (củ jalap).

Thành phần hoá học

Có tác giả cho rằng trong rễ củ của cây hoa phấn có chứa chất nhựa tẩy giống như nhựa tẩy trong củ cây jalap (châu Mỹ). Nhưng cây jalap này có tên khoa học Ipomea purga Hayne thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae).

Công dụng và liều dùng

Trong nước ta hầu như cây này ít được sử dụng. Trừ một số nơi như trên đã nói dùng rễ củ cây hoa phấn với tên sâm, nhưng rất hiếm.

Tại Campuchia vùng Battambang người ta lấy lá giã nát xoa bóp chữa sốt. Tại các nước khác lá giã nát đắp lên vết thương, lá và rễ sắc uống chữa ngộ độc đường tiêu hoá, và làm thuốc tẩy.

Phấn trong quả rất trắng và mịn được dùng xoa mặt thay phấn.

Vùng Thanh Miện, Hưng Yên dùng lẫn trong đơn thuốc gồm nhiều vị với tên sâm. Ngày dùng 4 đến 6g.

Nhưng ở nước ngoài người ta dùng với liều 1 đến 2g rễ khô làm thuốc tẩy mạnh cho người lớn, hoặc 0.1 đến 0.4g làm thuốc nhuận tràng cho trẻ con. Cần nghiên cứu kiểm tra lại.

(Tài liệu dẫn: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – GSTS Đỗ Tất Lợi)

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here