Hoàng bá

0
340
views

Hoàng bá còn gọi là hoàng nghiệt. Tên khoa học Phellodendron amurense Rupr. (Phellodendron amurense Rurp. var. sachalinense Fr. Schmidt). Thuộc họ Cam (Rutaceae).

Hoàng bá (Cortex Phellodendri amurensis) là vỏ thân cạo sạch vỏ ngoài phơi hay sấy khô của cây hoàng bá Phellodendron amurense Rurp, hoặc của cây xuyên hoàng bá Phellodendron amurense Rurp. var. sachalinense Fr. Schmidt đều thuộc họ Cam.

Vốn tên cũ là hoàng ngiệt là vỏ màu của cây nghiệt. sau này người ta dùng chữ bá thay cho chữ nghiệt để viết cho đơn giản (chữ nho).

Mô tả cây

Là một cây cao to, có thể cao tới 2-25m, đường kính thân có thể đạt tới 70cm. Vỏ thân dày, phân thành 2 tầng rõ rệt. Tầng ngoài màu xám, tầng trong màu vàng.

Lá mọc đối, kép gồm 5-13 lá chét nhỏ hình trứng dài, mép nguyên. Hoa tím đen, trong chứa 2-5 hạt. Ra hoa mùa hạ.

Ngoài cây kể trên, tại Trung quốc người ta còn khai thác vỏ cây xuyên hoàng bá Phellodendron amurense Rupr. var. sachalinense Fr. Schmidt (có tác giả xác định là Phellodendron sonensis Schneider), cây nhỏ và thấp hơn, 7-15 lá chét, quả hình trứng, còn quả cây hoàng bá nói trên hình cầu.

Phân bố, thu hái và chế biến

Vị thuốc hoàng bá thật hiện còn phải nhập.

Tại Trung Quốc, cây mọc ở Hắc Long Giang, Hà Bắc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu. Tại nước Nga, mọc nhiều ở vùng Siberia.

Mấy năm gần đây chúng ta đã xin được hạt và bắt đầu trồng thí nghiệm. Sơ bộ thấy cây mọc khỏe, tốt.

Vỏ thân thường hái vào mùa hạ, cạo sạch vỏ ngoài, chỉ còn lớp trong dày chừng 1cm, sau đó cắt thành từng miếng dài 9cm, rộng 6cm, phơi khô. Loại tốt có màu vàng tươi rất đẹp, vị rất đắng.

Thành phần hóa học

Trong hoàng bá có chừng 1.5% berberin C20H19O5N, một ít palmatin C21H23O5N.

Ngoài ra còn có những chất có tinh thể, không chứa nitrogen như obacunone C26H30O7 và obaculactone C26H30O8, chất béo, hợp chất sterolic.

Phản ứng hóa học thử hoàng bá: lấy chừng 0.2g bột, thêm 2ml acid acetic, đun sôi nhẹ, lọc. Phần lọc thêm dung dịch iod sẽ cho kết tủa màu vàng (berberin iodide).

Phản ứng Lieberman xác định sự có mặt hợp chất sterolic.

Bột hay mảnh vỏ soi ánh ngoại tím cho hùynh quang màu vàng tươi.

Tác dụng dược lý

Nhiều thí nghiện chứng minh tác dụng kháng sinh của hoàng bá, dịch chiết bằng cồn ức chế các vi trùng Staphylococcus, lỵ, thổ tả, Salmonella (Thực vật học báo 1954, 3(2): 121-131, Giang tây Trung y báo 1956 2: 54-58).

Công dụng và liều dùng

Là vị thuốc bổ đắng, giúp cho sự tiêu hóa kém, bệnh do khuẩn ở ruột, lỵ. Còn dùng rửa mặt, thay hoàng liên chế berberin, chữa giun, thuốc nhuộm, đắp chữa mụn nhọt, vết thương. Ngày dùng 5-10g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột.

Đông y coi hoàng bá có vị đắng, lạnh, không độc. Có tác dụng tả tướng hoả, thanh thấp nhiệt. Dùng làm thuốc kiện vị, ngoại khoa chữa mắt và bệnh ngoài da, còn dùng chữa hoàng đản, trĩ hậu môn, phụ nữ bị xích bạch đới.

Đơn thuốc có hoàng bá

Kiện vị kém tiêu hoá, hoàng đản do viêm ống mật: hoàng bá 12g, chi tử 12g, cam thảo 6g, nước 60ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Người có thai đi lỵ: hoàng bá tẩm mật sao cho cháy, tán nhỏ. Dùng một củ tỏi nướng chín, bóc vỏ giã nát them bột hoàng bá vào viên bằng hạt ngô. Ngày uống 3 lần mỗi lần
30-40 viên.

Lở miệng, loét lưỡi: hoàng bá chẻ nhỏ, ngậm. Nước có thể nuốt hay nhổ đi.

Chú thích

Trong nhân dân ta thường dùng vỏ cây núc nác với tên hoàng bá nam, hay nam hoàng bá. Hai vị thuốc có thành phần khác hẳn nhau nhưng lại có một số tác dụng giống nhau (xem cây núc nác). Cần chú ý để tránh nhầm lẫn.

(Tài liệu dẫn: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – GSTS Đỗ Tất Lợi)

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here