Bạch vi

0
175
views

hBạch vi là rễ của cây bạch vi thân thẳng hoặc thân leo, là loài thực vật thân thảo sống lâu năm. Có thân rễ ngắn, nhiều nhánh nhỏ. Dùng loại có màu vàng nâu, kích thước đều, to thô, bẻ gãy thấy có màu trắng, lõi đặc là tốt nhất. Cây này chủ yếu sinh trưởng ở An Huy, Sơn Đông, Liêu Ninh. Thời gian thu hoạch vào đầu xuân hoặc cuối thu.

Bạch vi vị đắng, tính bình. Chủ trị chứng đột nhiên trúng phong, thân thể bốc hỏa, tứ chi nặng nề, đau mỏi, thần trí không bình thường, lúc nóng, lúc lạnh, sốt  rét phát tác có quy luật.

Từ thời cổ, bạch vi đã được coi là loại thuốc tốt chủ trị các chứng bệnh phụ khoa, đồng thời có công hiệu cải tử hoàn sinh. Tương truyền, thời xưa có một cô gái, bình thường sức khỏe của cô rất tốt, ít khi bị bệnh, bỗng một ngày cô bị ngất, bất tỉnh nhân sự. Theo chẩn đoán của thầy thuốc nguyên nhân là do chứng đột ngột hôn mê do khí tắc nghẽn, nên dùng bạch vi để trị liệu, làm cho khí huyết vận hành thông suốt mới có thể hồi tỉnh. Quả nhiên sau khi dùng bạch vi không lâu, cô gái này đã tỉnh dậy, bệnh tình cũng nhanh chóng thuyên giảm khiến mọi người đều cảm thấy vô cùng ngạc nhiên.

Sau này trên thực tiễn lâm sàng đã phát hiện rằng, bạch vi vị đắng, mặn, tính hàn. Vì vị đắng nên có thể hạ khí, thanh hỏa; vị mặn vào máu, tính hàn có thể thanh nhiệt, đặc biệt thanh trừ hư nhiệt, do đó nó có tác dụng thanh nhiệt, mát máu, lợi niệu thông lâm. Bạch vi tuy có vị đắng tính hàn nhưng mát mà không táo, tăng ích mà không ứ trệ, do đó là vị thuốc tốt trong điều trị bệnh phụ khoa, có thể trị các chứng âm hư như ra nhiều mồ hôi trộm, triều nhiệt, suy nhược sau khi sinh, dư nhiệt sót lại sau khi ốm dậy. Vì có vị đắng có thể giáng hạ tiết tháo, do đó có tác dụng thông lợi đường tiết niệu, bạch vi còn dùng để trị các chứng huyết lâm, nhiệt lâm. Ngoài ra, còn có công hiệu giải độc trị lở loét, viêm họng sưng đau, vết thương do rắn độc cắn, dùng uống hay bôi ngoài đều được.

Trong sách Bản kinh có viết rằng, bạch vi có thể trị “bạo trúng phong thân nhiệt, chi mãn, hốt hốt bất tri nhân, cuồng hoặc tà khí”. Trong đó, “bạo trúng phong”  là chỉ chứng đột nhiên bị ngất xỉu, bất tỉnh nhân sự hoặc bán thân bất toại, mắt miệng méo xệch, cấm khẩu… “Cuồng hoặc” là chứng bệnh tương tự như chứng tâm thần phân liệt ngày nay, biểu hiện là thần trí hỗn loạn, đánh mắng người, không ăn không ngủ, đứng không vững… Những chứng bệnh này đều do máu tắc nghẽn, tà hỏa tích tụ trong gan, dạ dày gây ra. Vì bạch vi có tác dụng thanh nhiệt, tốt cho máu nên có thể trị khỏi được các bệnh trên. Ngoài ra, rễ bạch vi có chứa các thành phần rất tốt như chất cyanchol, tinh dầu dễ bay hơi, glucoside tốt cho tim… có thể trực tiếp tăng cường chức năng cơ tim. Nhưng liều lượng dùng của bạch vi thường là 3-10g, không được dùng quá quy định, hơn nữa người tỳ, vị hư hàn, ăn ít, bí tiện không nên dùng.

Phương thuốc tham khảo

Trị viêm phổi, mũi tắc, không xác định được mùi vị: lấy bạch vi, bối mẫu, khoản đông hoa, mỗi loại 31f, bách bộ 62g. Các loại thuốc trên nghiền nhỏ với nhau, mỗi lần dùng 3g với nước cơm.

Trị chứng tiểu dầm, nhau thai sót sau khi sinh ở phụ nữ: lấy bạch vi, thược dược, mỗi loại 31g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, mỗi lần dùng 1g với rượu, mỗi ngày dùng 3 lần.

Trị lở loét có mủ vàng, chảy máu: lấy bạch vi nghiền nhỏ rồi bôi lên vết thương.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here