Bồ hoàng

0
575
views
bo hoang

Bồ hoàng là loại phấn hoa màu vàng của cây hương bồ lá rộng dài hoặc cây hương bồ lá nhỏ, là loại thực vật thân cỏ, thuộc họ hương bồ (Typhaceae). Thông thường, thu hoạch vào mùa hè, cắt lấy bông hoa đực màu vàng, sau đó phơi khô, sàng qua để lấy phấn hoa.

Bản kinh có viết: bồ hoàng vị ngọt, tính bình. Chủ trị chứng hàn nhiệt ở tim, bụng, bàng quang. Có tác dụng lợi thủy đạo, thông tiểu tiện; có thể cầm máu, tiêu trừ ứ huyết. Dùng lâu ngày giúp cơ thể nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, tăng cường khí lực, kéo dài tuổi thọ.

Bồ hoàng có tác dụng trên 2 phương diện, tức là có thể lợi thủy tiêu viêm và hành huyết, cầm máu. Có thể thấy, đây là loại dược liệu có tác dụng đồng thời cho cả dịch và máu trong cơ thể. Trên phương diện điều trị các bệnh về máu, bồ hoàng có tác dụng cầm máu rõ rệt, lại có thể tiêu trừ chứng ứ trệ máu, đây cũng là điểm đặc biệt của vị thuốc này. Y học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, bồ hoàng có thể dùng để chữa các chứng bệnh xuất huyết, cũng có tác dụng cải thiện tuần hoàn máu, giảm máu đông, giúp hoạt huyết. Trên thực tiễn ứng dụng lâm sàng, làm thế nào mới có thể phân biệt và phát huy được 2 tác dụng trị liệu trái ngược nhau này của bồ hoàng? Sách Bản thảo cương mục có viết: “Sống thì có thể hành, chín thì có thể ngừng”, tức là nếu dùng sống thì có thể phát huy tác dụng hành huyết, tiêu trừ ứ huyết, sau khi sao thì có thể dùng để cầm máu. Biểu hiện về tác dụng cầm máu của bồ hoàng là khả năng điều trị cầm máu, như: ho ra máu, chảy máu, đại tiện ra máu, ra máu âm đạo không trong kỳ kinh. Ngoài ra, những triệu chứng đau bụng sau khi sinh, kết u trong bụng cũng có thể dùng bồ hoàng để chữa trị. Tác dụng hành huyết, tiêu trừ huyết ứ của bồ hoàng thường dùng để trị chứng đau tim, đau bụng kinh do hiện tượng máu tắc nghẽn. Ngoài ra, cũng có thể dùng bồ hoàng để điều trị chứng đau bụng sau khi sinh ở phụ nữ, ngăn chặn sự phát triển của khối u, Y học cổ truyền gọi là “nhi chẩm thống”.

Tác dụng hành huyết, tiêu trừ ứ huyết, còn biểu hiện ở chổ có thể giảm lượng máu, cân bằng huyết áp, chữa co giật và tăng cường lưu lượng máu ở động mạch vành. Vì vậy, bệnh ở động mạch vành, đa thắt cơ tim, nhồi máu cơ tim, mỡ máu cao đều có thể dùng bồ hoàng để chữa trị. Hiện nay, trong rất nhiều loại thuốc dùng để trị bệnh tim mạch đa số đều có chứa bồ hoàng. Bồ hoàng có tính chất mịn nhẵn, đặc, dính, còn có tác dụng giúp cơ bắp phát triển, hơn nữa có thể làm mát máu, hoạt huyết, nên chữa được chứng lở loét miệng lưỡi. Ngoài ra, bồ hoàng cũng có tác dụng lợi tiểu, thông lâm, vì vậy còn dùng để trị các bệnh trong hệ thống đường tiết niệu như huyết lâm đau buốt.

Phương thuốc tham khảo

Trị sưng lưỡi: dùng tay chấm bột bồ hoàng bôi vào lưỡi, hoặc thêm ít bột gừng khô thì càng tốt. Cũng có thể trị được bệnh tưa lưỡi, nói ngọng.

Trị chảy máu cam do phổi nhiệt nóng: bồ hoàng, thanh đại, mỗi loại 3g sao chín, nghiền nhỏ uống với nước.

Trị chứng nôn ra máu: lấy 62g bột bồ hoàng, mỗi ngày uống 9g với nước lạnh hoặc rượu ấm.

Trị bệnh trĩ: bột bồ hoàng 1g, mỗi ngày uống 3 lần với nước.

Trị động thai, sinh non: bồ honàg 6g, dùng với nước giếng mới múc.

Trị chứng khó sinh: bồ hoàng, địa long (giun đất rửa sạch và sấy khô), trần bì khô, mỗi loại 1 phần nghiền nhỏ, sắc với nước giếng.

Trị chứng đau nhức xương khớp: bồ hoàng 250g, phụ tử chín 31g. Các dược liệu trên nghiền nhỏ, mỗi lần dùng 3g với nước nguội.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here