Bối mẫu

0
221
views

Bối mẫu dùng làm thuốc là phần thân củ ở dưới đất của cây bối mẫu, loài thực vật thân cỏ sống lâu năm thuộc họ bách hợp. Tùy vào nơi sản xuất và chủng loại mà bối mẫu được chia thành 3 loại lớn là xuyên bối mẫu, triết bối mẫu và thổ bối mẫu.

Bối mẫu vị cay, tính bình. Chủ trị các chứng bệnh nội nhiệt, ngoại cảm thương hàn…, cũng có thể dùng để điều trị chứng tiểu dắt, tiểu són, bụng dưới phát nhiệt đau nhức, tiểu tiện ra chất dịch màu trắng, điều trị các bệnh như họng đau, khó thở, sữa tắc không thông, bệnh uốn ván do các vết thương ngoài hoặc kim loại gây ra. Trong lịch sử từ khi có Bản kinh, căn cứ vào tất cả các văn hiến ghi chép lại thì bối mẫu chỉ có một loại. Đến thời Minh, Thanh mới có sự phân biệt xuyên bối và triết bối.

Xuyên bối vị ngọt, đắng, tính hơi hàn, quy về phế kinh, tâm kinh. Vì vị đắng có thể trừ hỏa, vị ngọt nhuận táo, tính hơi hàn có khả năng thanh nhiệt, lại quy về phế kinh, cho nên có công hiệu thanh nhiệt, tiêu đờm, nhuận phế, trị ho, tiêu tán những tích tụ sưng đau. Có thể dùng để điều trị các chứng bệnh phổi nóng, ho khan, ho lao, ho lâu ngày do phổi hư, đờm ít, khó thở, trong đờm có máu và bệnh tràng nhạc, phù thũng, ung nhọt, mụn ở vú, mụn ở phổi… Triết bối vị đắng, tính hàn, quy vào tâm kinh, phế kinh. Vì nó là loại thuốc có vị đắng, tính hàn nên có thể dùng để thanh hỏa hạ phế, tiêu đờm, trị ho, giúp tiêu tán ung nhọt, phù thũng do bệnh tràng nhạc. Có thể thấy rằng, công dụng chủ yếu có triết bối là thanh nhiệt, tiêu đờm, tiêu tán những tích tụ.

Công cụ của 2 loại xuyên bối và triết bối cơ bản là giống nhau, đều có thể tiêu đờm, trị ho, thanh nhiệt, tiêu tán tích tụ. Nhưng điểm khác nhau là: xuyên bối kiêm cả tác dụng nhuận phế, thường được sử dụng phối hợp với thuốc dưỡng âm nhuận phế, điều trị chứng ho lâu ngày do phổi hư, đờm ít, khó thở…; còn triết bối là loại dược liệu vị đắng, tính hàn, thường được dùng phối hợp với các thuốc bổ phế, tiêu đờm, cũng có công hiệu rất tốt trong điều trị chứng ho do phong nhiệt xâm nhập vào phổi hoặc đờm nhiệt uất phế. Ngoài ra, bối mẫu quy về tâm kinh, vì thế còn có tác dụng tiêu tán tà khí tích tụ ở tâm kinh, có thể dùng để trị các chứng bệnh tức ngực, ngực đau, tim đập nhanh, hay quên, mất ngủ, ức chế, không vui… do khí tích tụ trong ngực và tâm kinh gây ra. Bối mẫu có thể thanh nhiệt, giải độc, tiêu tán tích tụ, vì thế có thể điều trị các chứng bệnh “thương hàn, bức bối khó chịu, tiểu tiện nhỏ giọt do tà khí, co rút gân cơ, họng tê liệt, sưng đau tắc sữa, tổn thương do vật kim loại gây ra, co rút do phong tà”… như trong sách Bản kinh đã viết.

Phương thuốc tham khảo

Trị chứng buồn bực không vui, ứ trệ vùng hoành cách mô: lấy bối mấu, bỏ lõi, sao với nước gừng rồi nghiền nhỏ, trộn nước gừng, bột mì, nặn thành viên nhỏ, mỗi lần dùng 70 viên.

Hóa đờm hạ khí, ngừng ho, giải tỏa buồn bực: lấy 31g bối mẫu đã bỏ lõi, hậu phác (sao với nước gừng) 15.6g, tán thành bột, thêm mật ong vào nặn thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 50 viên với nước.

Trị ho lâu ngày ở trẻ nhỏ: lấy 15g bối mẫu, 6g cam thảo (một nửa để tươi và một nửa đã nướng). Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, sao với đường cát nặn thành viên bằng hạt súng. Mỗi lần uống 1 viên với nước cơm.

Trị sữa, tắc không thông: bối mẫu, tri mẫu, bột mẫu lệ, mỗi loại một phần, nghiền nhỏ. Mỗi lần uống 6g với nước hầm giò heo.

Trị chảy nước mắt, hoa mắt: bối mẫu 1 củ, hồ tiêu 7 hạt. 2 vị thuốc trên nghiền nhỏ rồi bôi lên mắt.

Trị mắt có mộng thịt: bối mẫu, đinh hương, mỗi loại 1 phần, nghiền nhỏ, trộn với sữa rồi bôi vào mắt.

Trị chảy máu cam không cầm: bối mẫu sao vàng, nghiền thành bột. Mỗi lần uống 6g với nước tương nóng.

Trị tắc sữa sưng đau giai đoạn đầu: lấy 6g bối mẫu uống với rượu, ngoài ra phải kết hợp hút để thông sữa.

Trị sẹo đỏ, sẹo trắng: bối mẫu, nam tinh, mỗi vị một phần, nghiền thành bột. Dùng gừng sống giã nát lấy nước, trộn với thuốc bột bôi lên chỗ sẹo.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here