Đan sa

0
318
views
dan sa

Đan sa hay còn gọi là thần sa, chu sa, là các tên gọi của loài khoáng vật cinnabrit có sẵn trong tự nhiên. Hơn 2500 năm trước trong Sơn hải kinh đã có ghi chép về vị thuốc này. Theo sự biến chuyển của lịch sử và tình hình sử dụng ngày càng rộng rãi, đan sa còn có nhiều tên gọi khác như: thần sa, trân châu, nhật tinh, thái dương, chu tước…

Tương truyền, đất Thần Châu ở Hồ Nam là nơi sản sinh ra đan sa có chất lượng tốt nhất, cho nên còn gọi là thần sa. Thành phần chủ yếu có trong đan sa là HgS và một lượng nhỏ lưu huỳnh trạng thái phân ly. Nếu dùng nhiều lần, lâu ngày với lượng lớn sẽ tích độc lưu huỳnh, dẫn đến bệnh tật, thậm chí có thể gây tử vong cho người bệnh.

Bản kinh cho rằng: dược tính của đan sa hơi hàn, tính hàn thuộc Thủy quy thận kinh, vị ngọt không độc; ngọt thuộc Thổ, nhập vào tâm kinh. Vì thế, đan sa có thể trị bách bệnh, là vị thuốc bình hòa, nên các chứng bệnh của ngũ tạng đều có thể dùng nhiều lần mà không phải lo lắng. do khí thuốc đi vào tim, thận; tim, thận được điều dưỡng mà tác động qua lại thì tự nhiên tinh thần sẽ được nuôi dưỡng tốt, giúp an thần tĩnh trí, cần bằng. đan sa vị ngọt nên bổ tỳ, bổ tỳ sẽ ích nguyên khí. Vì đan sa là loại thuốc thuộc “kim thạch”, kim có ánh sang bề mặt có thể soi sang vật, cho nên có tác dụng làm sáng mắt. Sắc đổ tượng trưng cho Hỏa, Hỏa có thể chiếu sang mọi vật, tránh âm tà, cho nên có tác dụng “xua đuổi ác quỷ”. Lại vì đan sa làm cho lượng nước trong thận tăng khiến Hỏa trong tim hạ xuống, dẫn đến tim, thận có sự tác động qua lại. Cho nên, dùng loại thuốc này lâu ngày có tác dụng kéo dài tuổi thọ.

Ngoài ra, trong sách Bản thảo cương mục cho rằng: đan sa ích khí, sáng mắt, xua đuổi tà khí, ác quỷ, lưu thong huyết mạch, chống phiền muộn, trị bệnh tiêu khát, giúp cho sắc mặt tươi tỉnh, trị đau bụng, lở loét, mụn ghẻ, trấn tâm, sốt, trúng phong, nhuận tim, phổi, an thai, trị bệnh đậu mùa, sốt rét. Về mặt lâm sang, công dụng trị liệu của đan sa chủ yếu trên 2 phương diện sau: bên trong có thể trấn an tinh thần, chống hồi hộp, tim đập loạn nhịp, mất ngủ, nóng nảy, buồn phiền, kinh sợ, dễ bị kích động…; bên ngoài còn có tác dụng giải độc, tránh tà. Người xưa có ghi chép: “Chư thống dương thương giai thuộc vu tâm”, cho rằng trong máu có hỏa nhiệt có thể sinh ra các chứng lở loét, mụn nhọt, phù thũng, đan sa có thể thanh tâm hạ nhiệt. Vì thế, thường dùng làm loại thuốc thanh nhiệt giải độc.

Thành phần hóa học chủ yếu của đan sa là HgS, được phân bố ở các vùng Hồ Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên Thời xưa, trong hang đá của Thần Châu, Cẩm Châu là 2 nơi sản xuất loại thượng phẩm; Giao Châu, Quế Lâm là nơi sản xuất loại trung phẩm; Hoành Dương, Thiệu Dương sản xuất loại hạ phẩm. Một số sản phẩm đan sa hạ phẩm, thạch sa có tạp chất. Do đó, không được dùng nhiều lần, nếu dùng liên tục trong thời gian dài sẽ gây tác dụng phụ. Bột đan sa có màu vàng đỏ, lâu ngày không phai. Do vậy được dùng làm thuốc nhuộm có màu đỏ rất đẹp. Năm 1972, khai quật từ mộ Hán trên đồi Mã Vương ở Trường Sa tìm được tấm lụa dệt vẽ hoa, trong đó không ít hoa văn sử dụng màu của đan sa. Mặc dù đã trải qua hơn 2000 năm, nhưng màu sắc tấm lụa vẫn còn nguyên vẹn.

Ngoài ra, đan sa còn có tác dụng quan trọng đó là làm nguyên liệu luyện đan. Thuật luyện đan ở Trung Quốc cổ đại xuất hiện từ thế kỷ III trước Công nguyên. Trải qua quá trình luyện đan có thể trở thành vị thuốc trường sinh bất tử, đan dược còn được dùng trong thuật luyện đó thành vàng. “Đan” ở đây chỉ đan sa, về sau lại chỉ các loại “thuốc trường sinh” hoặc “thuốc luyện vàng”. Sách Bản kinh và Bản thảo cương mục đều cho rằng: đan sa có tác dụng thận thủy tăng, tâm hỏa giáng, dẫn đến tim, thận tác động qua lại. Vì thế dùng lâu có tác dụng kéo dài tuổi thọ. Sau đó, đan sa trở thành nguyên liệu được lựa chọn để luyện đan thời cổ đại. Tuy nhiên, trên thực tế, đan sa còn có một lượng nhỏ lưu huỳnh phân ly, nếu dùng nhiều lần trong thời gian dài với một lượng lớn sẽ tích độc lưu huỳnh, dẫn đến bệnh tật, thậm chí có thể gây tử vong. Trong cuốn Chu lễ của Trịnh Huyền thời Đông Hán viết: “Đan sa gặp lửa, độc như thạch tín, uống vào tất sẽ trúng độc”, hơn nữa còn liệt nó vào loại đá trong ngũ độc. Trong lịch sử, nhiều vị hoàng đế như Tấn Ai Đế, Đường Hiến Tông, Đường Mục Tông… do dùng nhiều “bất lão đan” nên trúng độc mà chết.

Phương thuốc tham khảo

Trị tinh thần bất an, tim đập nhanh, mất ngủ: đan sa 30g, hoàng liên 45g, đương quy, sinh địa, cam thảo (sao), mỗi loại 15g. Các vị thuốc trên tán thành bột nhỏ, hòa với nước nóng đem hấp lên, nặn thành viê hỏ như hạt kê, mỗi lần uống 15 viên.

Trị sưng đau họng – đan sa tán: đan sa 0.3g (nghiền nhỏ, lọc bỏ vỏ tạp chất), mang tiêu 45g. Các vị thuốc trên có thể ngậm vào bất kể thời gian nào.

Giải độc bệnh đậu mùa: khi da sắp nổi mụn hay mới xuất hiện. Lấy 1.5g đan sa, hòa với mật để uống.

Trị chứng dễ kích động: 2 quả tim lợn, thái nhỏ cho vào 62g đan sa dạng hạt to, đăng tâm thảo 93g, dùng sợi đay buộc lại, cho vào nồi đất đun trong 1 giờ. Sau đó lấy đan sa nghiền mịn, trộn với 62g bột phục thần, thêm rượu, nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng kết hợp 9-15 viên với nước lạnh, bệnh nặng có thể dùng với canh ngũ hương, nhân sâm.

Chữa vết thương rắn cắn: phương Nam mưa nhiều, có nhiều vắt sống ở trên cây cổ thụ, khi ngửi thấy hơi người liền nhảy xuống cắn, vết thương để lâu ngày sẽ bị biến chứng. Dùng đan sa, xạ hương bôi lên là khỏi.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here