Địa du

0
177
views

Địa du là gốc của cây địa du, loài thực vật sống lâu năm thuộc họ tường vi. Thời gian nảy mầm vào tháng 3 và thời điểm này là cũng bắt đầu đăm chồi, lá có hình bầu dục. Tháng 7 có quả màu đỏ tía. Rễ của nó ngoài có màu đen, trong màu đỏ.

Địa du vị đắng, tính hàn. ChỦ trị vùng ngực co giật, ngực sưng đau ở phụ nữ sau khi sinh, các chứng khí hư, khí hư bất thường; có thể giảm đau, ngăn tiết mồ hôi, tiêu trừ hoại tử và những vết thương do kim loại gây ra.

Theo Y học hiện đại nghiên cứu và chứng minh, địa du vị đắng, chua, tính hơi hàn. Vị đắng có thể giáng khí, trừ hỏa, vị chua có thể thu liễm, tính hơi hàn có thể thanh nhiệt, cho nên địa du được coi là vị thuốc tốt để thanh nhiệt, làm mát máu, thu liễm, cầm máu. Trên lâm sàng, thường dùng nó để trị đại tiện ra máu, trĩ kèm máu, tiểu tiện ra máu, bệnh lỵ ra máu… Vì địa du tính hàn, lại có tác dụng thanh nhiệt, trị đau, cho nên trong Bản kinh có ghi nó có thể chữa chứng ngực đau sau khi sinh ở phụ nữ. Ngày nay, người ta cũng dùng địa du để chữa các chứng bệnh đau khớp xương do tà nhiệt tích tụ gây ra cho hiệu quả tốt. Lại vì địa du vị chua, có tác dụng thu liễm nên có thể trị chứng khí hư, tức dịch trong âm đạo tiết ra quá nhiều do thấp nhiệt gây ra, xuất hiện khí hư màu trắng, vàng đục, có mùi hôi bất thường. Địa du còn có tác dụng tiêu độc, trị phù thũng, lở loét, tốt cho cơ bắp, đồng thời còn dùng để chữa các chứng da lở loét, mụn nhọt có mủ lở loét.

Ngoài được dùng làm thuốc, địa du còn dùng để ủ rượu. Thời chiến, những người sống trong núi vì không có lá chè nên thường lấy lá địa du đun nước uống, vị của nó rất thơm ngon, ngoài ra lá địa du còn được dùng làm đồ ăn.

Dược lý học hiện đại đã nghiên cứu chỉ rõ, trong địa du có chứa những thành phần rất tốt như chất tannins (chất dùng để thuộc da), saponin triterpenoid… có thể nhanh chóng giúp máu đông, làm co mạch máu, cho nên có tác dụng rất tốt để cầm máu. Đồng thời, địa du cũng có tác dụng khống chế các tụ cầu vàng, khuẩn viêm màng não, khuẩn thương hàn. Cũng có tác dụng tốt khi chữa bỏng cho trẻ nhỏ. Ngoài ra, địa du còn có công dụng hạ huyết áp, thúc đẩy nhanh quá trình tiêu hóa protein.

Phương thuốc tham khảo

Trị chứng nôn ra máu ở nam nữ, rong kinh, khí hư trắng đỏ ở phụ nữ, người gầy gò, da vàng: lấy 93g địa du, 1l giấm gạo, đun sôi, bỏ bã, uống 100ml lúc nóng trước khi ăn.

Trị bệnh lỵ ra máu không dừng: lấy địa du phơi khô, nghiền nhỏ, mỗi lần dùng 6g, nướng lên cùng với tiết dê, dùng nóng. Cách khác là: lấy địa du sắc lấy nước uống, mỗi lần uống 300ml.

Trị bệnh kiết lỵ có dịch trắng đỏ: lấy 500g địa du, sắc với 3l nước, còn 1.5l. Mỗi ngày uống 2 lần.

Trị đại tiện ra máu lâu ngày không khỏi: lấy địa du, cỏ đuôi chuột mỗi loại 62g. Sắc với 2l nước, lấy 1l thuốc, uống trong 1 lần.

Trị bệnh tích kiết lỵ ở trẻ nhỏ: dùng địa du sắc lấy nước đặc, tiếp tục đun cho cô đặc, dùng uống, tác dụng rõ rệt.

Trị vết thương do rắn độc cắn: lấy rễ địa du giã lấy nước uống, đồng thời bôi lên vết thương.

Chữa các vết thương do hổ, chó cắn: lấy địa du đun lấy nước uống, bột địa du bôi lên miệng vết thương, có thể dùng bột địa du uống cùng với nước trắng.

Trị lở loét ở trẻ nhỏ: lấy địa du sắc lấy nước, mỗi ngày rửa chỗ lở loét 2 lần.

Trị trẻ nhỏ mặt bị lở loét, sưng tấy: lấy 250g địa du, sắc với 10l nước, lấy 5l, rửa vết lở loét sưng tấy khi còn nóng.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here