Gừng khô

0
334
views
gừng khô

Gừng được sử dụng làm gia vị, trong dược lý gọi là gừng tươi. Gừng tươi sau khi phơi khô gọi là gừng khô, lại lấy gừng khô nướng lên nhưng vẫn giữ được trọn vẹn dược tính gừng được gọi là pháo khương hoặc khương than. Dân gian có câu: “Mùa hè ăn tỏi, mùa đông ăn gừng, không cần thầy thuốc phải kê đơn bốc thuốc”. Có thể thấy, gừng là vị thuốc hiệu quả được sử dụng rộng rãi.

Gừng khô vị cay, tính ôn. Chủ trị u cứng trong lồng ngực, ho, hen suyễn, kiết lỵ, đại tiện ra máu, phong tê thấp. Có thể làm ấm tạng phủ, giúp bài tiết mồ hôi, ngoài ra còn có công dụng cầm máu. Dùng lâu dài có thể trừ khí bẩn đục, giúp tinh thần sáng suốt.

Bản kinh có viết: gừng khô vị cay, tính ôn, nhưng trong thực tiễn lâm sàng cho thấy nó có vị cay, tính nhiệt. Gừng khô quy về tỳ, vị, tâm, phế kinh, cho nên vị cay, tính nhiệt của nó có bốn tác dụng hiệu quả: thứ nhất, khi quy về tỳ kinh, có thể ôn kinh, trợ tỳ, cầm máu, trị các chứng nôn ra máu, đại tiện ra máu, băng huyết do hư hàn; thứ hai, quy về vị kinh có thể ôn trung, tán hàn, trị tỳ vị hư hàn, tiêu chảy, kiết lỵ, chân tay lạnh…; thứ ba, quy về tâm kinh có thể trừ phong tà, giúp tiết mồ hôi, thông lợi huyết mạch, chỉ có điều tác dụng không rõ rệt; dùng kết hợp với các loại thuốc trị phong thấp mới có hiệu quả tốt; thứ tư, quy về phế kinh có thể tiêu đờm, thông lợi cửu khiếu, trị các chứng ho có đờm, khó thở.

Trên lâm sàng, tính vị và công hiệu trị liệu của gừng tùy thuộc vào phương thức bào chế mà có sự khác nhau. Gừng tươi tính ôn có thể tán hàn, có tác dụng trị ho có đờm, khó thở, chữa các chứng đau đầu, thương hàn, ho, bụng và dạ dày lạnh. Gừng khô tính nhiệt, có tác dụng làm ấm hiệu quả, tán hàn, táo thấp, có thể trị các chứng mạch nhỏ yếu, chân tay lạnh, dưỡng khí thiếu hụt, tỳ vị hư hàn, ho do dùng đồ lạnh, đại tiện phân lỏng, bệnh tả. Gừng khô nướng tính nhiệt cao, có tác dụng làm ấm tạng phủ, cầm máu, có thể chữa đau bụng, bệnh tả, nôn ra máu, chảy máu. Ngoài ra, vỏ gừng và nước gừng cũng có giá trị làm thuốc. Vỏ gừng tươi có tác dụng điều hòa tỳ, lợi thủy, trị phù nề trên da. Nước gừng có tác dụng trị ho, tiêu đờm, thông lợi cửu khiếu.

Dược lý học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, trong thân và củ gừng có chứa thành phần tinh dầu dễ bay hơi, như: zingiberol, methy heptemone nonanal, borneol, chavicol, citral, methyheptenone, có thể kích thích dạ dày tiết dịch vị, khiến cho nồng độ acid trong dạ dày tăng lên, nâng cao hoạt tính của dung môi phân giải mỡ trong dạ dày, từ đó kích thích sự co dãn và tính nhu động của đường ruột. Ngoài ra, dược liệu này còn có thể giúp tinh thần hưng phấn, thúc đẩy tuần hoàn máu, ức chế sự phát triển của nấm và vi khuẩn ở âm đạo, cũng có tác dụng trị ho. Nhưng gừng khô vị cay, tính nhiệt, cho nên không được dùng nhiều, đặc biệt là phụ nữ mang thai và những người âm hư hữu nhiệt, người mắc bệnh về mắt, bệnh trĩ lở loét cũng không nên dùng.

Phương thuốc tham khảo

Trị tỳ, vị hư hàn, ăn không tiêu: gừng khô trắng hầm với nước tương, nướng khô, giã nát, thêm cơm vào nặn thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần dùng 30-50 viên với nước ấm.

Trị chóng mặt, buồn nôn: lấy 7.8g gừng khô (nướng), 3.6g cam thảo (sao). Các loại thuốc trên sắc với 360ml nước, sắc đến khi còn nửa lượng nước thì dùng uống.

Trị tỳ lạnh, sốt rét: lấy gừng khô, cao lương khương mỗi loại một lượng thích hợp nghiền nhỏ. Mỗi lần lấy 3g, sắc với 240ml nước, còn lại một nửa thì dùng uống. Cách khác: lấy gừng khô nướng đem nghiền thành bột, dùng 9g uống với rượu khi có dấu hiệu phát bệnh.

Trị ho, khó thở: lấy gừng khô (nướng), bồ kết (nướng, bỏ vỏ, hạt và mối mọt), quế tâm (màu tím, bỏ vỏ) mỗi loại một lượng thích hợp. Các loại thuốc trên giã nát, sàng qua, đun với mật rồi nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng 3 viên. Khi ho phát tác lập tức uống thuốc. Mỗi ngày 3 lần, kiêng ăn hành, dầu mỡ, chất tanh.

Trị nôn ra máu không ngừng: Gừng khô nghiền nhỏ, trộn với nước tiểu của trẻ nhỏ uống.

Trị đau mắt đỏ: gừng trắng nghiền nhỏ, trộn với nước xoa lên lòng bàn chân.

Trị đau nhức răng: gừng khô (sao vàng), xuyên tiêu, mỗi loại 1 lượng thích hợp nghiền nhỏ, bôi lên chỗ đau.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here