Hàn thủy thạch

0
280
views
han thuy thach

Hàn thủy thạch còn gọi là ngưng thủy thạch, là loại khoáng thạch canxi carbonate dạng tinh thể lập phương gọi là phương giải thạch, hoặc là loại khoáng thạch canxi sulfate gọi là hồng thạch cao. Phương Nam quen dùng phương giải thạch, phương Bắc dùng hồng thạch cao.

Hàn thủy thạch vị cay, tính hàn. Chủ trị các triệu chứng thân thể phát nhiệt, trong bụng tích tụ tà khí, da nóng như lửa đốt, căng tức lồng ngực, tinh thần phiền muộn. Có thể dùng nước pha với hàn thủy thạch uống để điều trị các chứng bệnh này.

Hàn thủy thạch còn có tên gọi là bạch thủy thạch. Liên quan đến tính vị của nó, hiện nay thường cho rằng hàn thủy thạch có vị cay mặn, tính hàn. Về nguồn gốc vị của hàn thủy thạch có rất nhiều tranh luận; nhưng đối với dược tính của nó, từ xưa đến nay đều có chung nhận định về tính hàn cao. Trong Bản kinh sơ chứng có viết: “Vào mùa hè cho bột này vào trong nước, có thể khiến nước đóng băng, gọi một cách đơn giản là hàn hóa”. Đây đương nhiên là những từ mang tính khoa trương, tuy vậy từ sự giải thích của các nhà Y học cổ đại chúng ta có căn cứ về tính hàn của loại khoáng thạch này.

Do hàn thủy thạch có đặc tính đông cứng nước, có thể trừ nhiệt, cho nên trong Bản kinh có viết nó chủ trị các bệnh có tính nhiệt như “toàn thân nhiệt nóng”, “dưới da như lửa đốt”, “buồn phiền”. Trong lâm sàng, tác dụng của hàn thủy thạch và thạch cao giống nhau, đều có thể dùng để thanh nhiệt hạ hỏa, trừ phiền não, chỉ khát, dùng điều trị các bệnh về hàn nhiệt, tích nhiệt, phiền khát, phù nề, nôn mửa, tiêu chảy, bí tiểu, đau răng, chảy máu răng. Trong Bản thảo cương mục có viết: công hiệu của hàn thủy thạch còn làm “chắc răng, sáng mắt”. Hàn thủy thạch dùng ngoài, có thể điệu trị bệnh viêm quầng, bỏng. Ngoài ra, trong Bản kinh còn viết: hàn thủy thạch có thể điều trị “tích tụ tà khí trong bụng”, tuy nhiên công dụng này ở các đời sau dần bị xem nhẹ. Y học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, hàn thủy thạch có công dụng mềm rắn hóa kết, có thể điều trị kết khối rắn trong bụng. Mặt khác, trong lâm sàng sử dụng hàn thủy thạch cũng thu được hiệu quả điều trị cao.

Phương thuốc tham khảo

Trị bệnh thương hàn: hàn thủy thạch 6g, hoàng liên 3g. 2 vị thuốc trên nghiền nhỏ, nấu với cam thảo, để nguội rồi uống.

Trị bệnh sốt phát ban ở trẻ nhỏ: lấy bột hàn thủy thạch 31g, hòa với nước rồi bôi lên vùng bị bệnh.

Trị ho, hen suyễn do phế nhiệt: hàn thủy thạch 62g, cam thảo nướng 15.6g. 2 vị thuốc này trộn với nhau, nghiền thành bột. Mỗi lần dùng 9g uống với canh gừng mật ong.

Trị dạ dày nóng, răng đau: hàn thủy thạch 31g, hơ qua lửa, rồi nhúng vào dung dịch rượu nhạt. Thêm phòng phong, kinh giới, tế tân, bạch chỉ, mỗi loại 1.5g, nghiền nhỏ. Hằng ngày, chấm bột vào răng, hiệu quả rất tốt.

Trị đau đầu, chảy máu cam: hàn thủy thạch, mẫu lệ, mỗi loại 31g, nghiền nhỏ. Mỗi lần uống 6g, đồng thời dùng nước hòa một ít bột thuốc nhỏ vào mũi.

Trị bệnh quáng gà: lấy 3g bột hàn thủy thạch cho vào giữa 2 miếng gan lợn mỏng rồi dùng dây buột lại, đặt vào trong niêu đất nấu chín, lấy ra thái ăn. Mỗi ngày ăn một lần.

Trị tiêu chảy, sôi bụng: hàn thủy thạch hơ qua lửa, trộn với cơm nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng nước cơm uống 20 viên.

Trị bỏng lửa: dùng bột hàn thủy thạch bôi lên vết thương.

Trị viêm họng: lấy hàn thủy thạch (hơ qua lửa) 93g, cho thêm đan sa 10.9g, nghiền nhỏ, chấm bên ngoài vết thương.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here