Hoàng cầm

0
241
views

Hoàng cầm ở đây là rễ của cây hoàng cầm, loài thực vật sống lâu năm thuộc họ bạc hà. Nó còn có tên gọi là phụ tràng, hoàng văn, nguyên cầm… Loài này chủ yếu phân bố ở các vùng Hà Bắc, Vân Nam, Nội Mông, Hà Nam và Thiểm Tây…, thu hái vào mùa xuân là thời gian tốt nhất, cũng có thể thu hái vào mùa thu.

Hoàng cầm vị đắng, tính bình. Chủ trị các chứng bệnh phát nhiệt, hoàng đản, kiết lỵ ra máu mủ, tắc kinh, mụn nhọt do nhiệt, còn có tác dụng trị mất nước.

Hoàng cầm là thảo dược rất đặc biệt. Nó từng cứu vị danh y Lý Thời Trân. Theo sách Bản thảo cương mục có ghi chép, khi Lý Thời Trân hơn 20 tuổi, ông bị cảm nặng. Ban đầu ông không để ý, nhưng bệnh tình ngày càng nguy kịch, uống rất nhiều loại thuốc nhưng không có kết quả. Nhìn thấy Lý Thời Trân ngày càng gầy yếu, mọi người trong gia đình vô cùng lo lắng, cho rằng ông không thể qua khỏi. Lúc đó, cha của Lý Thời Trân là danh y Lý Ngôn Văn bỗng nhớ ra vị thuốc hoàng cầm, liền đem bài thuốc đó chữa trị cho con mình không ngờ sau khi uống xong, toàn thân ra mồ hôi, bệnh cảm của Lý Thời Trân đã được chữa khỏi, ho cũng dứt.

Hoàng cầm vị đắng, tính bình. Sách Bản thảo cương mục cho rằng, nó có tính hàn. Vị đắng có thể trừ táo thấp, tính hàn có thể thanh nhiệt, cho nên có thể điều trị bệnh tiêu chảy, thanh nhiệt, giải độc, cầm máu, an thai. Trên lâm sàng, người ta thường dùng nó để trị các chứng bệnh như nhiệt nóng, tiêu chảy, kiết lỵ, hoàng đản, thấp nhiệt tích tụ ở bàng quang gây ra vào mùa hè và thai phát nhiệt dẫn đến thai động, bất an… Hoàng cầm tốt trong việc thanh nhiệt tiết hỏa cho phế kinh, tâm kinh, can kinh, do đó mà thường dùng để chữa các chứng ho do phổi nóng, tình trạng nhiệt nóng không giảm. Ngoài ra, nó còn có tác dụng thanh nhiệt, cầm máu, trị liệu tốt với những chứng ho ra máu, đại tiện ra máu…, cũng có thể dùng để trị chứng mụn nhọt độc, lở loét…

Y học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, hoàng cầm có chứa nhiều thành phần, có tác dụng khống chế rất tốt đối với bệnh khuẩn tụ cầu vàng. Ngoài ra, hoàng cầm còn có tác dụng hạ huyết áp, giúp trấn tâm, an thần, chữa cơ bắp co giật, giúp lợi tiểu, khống chế các vi khuẩn trong đường ruột. Nhưng vì nó có vị đắng, tính hàn, nên không thích hợp với những người tỳ, vị hư hàn.

Phương thuốc tham khảo

Trị bệnh ngũ lao, thất thương, tiêu khát, cơ bắp không phát triển, ra khí hư ở phụ nữ, chân tay lúc nóng lúc lạnh: tùy theo mùa mà liều dùng của 3 vị thuốc hoàng cầm, đại hoàng, hoàng liên cũng khác nhau. Mùa xuân: hoàng cầm, hoàng liên, mỗi loại 125g; đại hoàng 93g. Mùa hè: hoàng cầm 187g, đại hoàng 31g, hoàng liên 218g. Mùa thu: hoàng cầm 93g, đại hoàng 156g, hoàng liên 62g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ rồi thêm mật vào nặn thành viên bằng quả trứng chim. Mỗi lần dùng 5-7 viên, mỗi ngày 3 lần. Sau 1 tháng bệnh sẽ khỏi. Dùng lâu dài giúp cơ thể khỏe mạnh, cường tráng.

Trị chứng da nóng như lửa: lấy 31g đại hoàng, sắc cùng với 240ml nước, lấy 120ml thuốc. Dùng 1 lần.

Trị ho ra máu, máu cam lúc ngừng lúc chảy: lấy 31g hoàng cầm nghiền nhỏ. Mỗi lần dùng 9g, sắc với 240ml nước, lấy 6 phần, uống cả bã khi còn nóng.

Trị huyết lâm nhiệt nóng: lấy 31g hoàng cầm, sắc lấy nước uống.

Trị rong kinh: lấy 62g lõi hoàng cầm, ngâm với nước vo gạo 7 ngày, nướng khô rồi ngâm tiếp, làm như vậy 7 lần rồi nghiền thành bột, thêm hồ và giấm nặn thành viên bằng hạt ngô. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 70 viên, uống với rượu ấm khi đói.

An thai, thanh nhiệt: hoàng cầm, bạch truật, mỗi loại một phần, nghiền nhỏ, trộn với nước cơm rồi nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng 50 viên với nước. Có thể thêm thần khúc.

Trị miệng khát sau sinh, uống nước không ngừng: lấy hoàng cầm, mạch môn đông, mỗi loại một phần, nghiề nhỏ thành bột, sắc nước uống khi còn nóng.

Trị lở loét chảy máu, máu chảy không ngừng, chân tay lạnh: lấy 6g hoàng cầm sao với rượu, nghiền nhỏ, uống cùng rượu, máu lập tức sẽ ngừng chảy.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here