Huyền sâm

0
218
views
huyền sâm

Huyền sâm còn gọi là nguyên sâm, là rễ khô của cây huyền sâm, loài thực vật thuộc họ mõm sói (Scrophulariaceae), mùa đông khi thân lá khô héo có thể thu lượm, phơi khô hoặc hong khô, xếp thành đống từ 3-6 ngày, phơi lại nhiều lần đến khi khô.

Huyền sâm hay còn gọi là nguyên sâm, vị đắng, tính hơi hàn. Chủ trị những khối u tích tụ trong bụng, cơ thể lúc nóng lúc lạnh, các bệnh liên quan đến tuyến sữa, có tác dụng bồi bổ thận khí, tăng cường thị lực.

Về tên gọi huyền sâm, có truyền thuyết cho rằng, do huyền sâm toàn thân đen bóng, là màu của Huyền vũ phương Bắc. Hình tròn, chất nhuận, lại có hình dáng của nhân sâm nên gọi là huyền sâm. Đến thời Tống, để tránh kỵ húy với tên tự Huyền Lãng của Tống Thái Tổ nên đổi chữ “huyền” thành “nguyên”. Cũng không cho phép huyền sâm có màu đen, huyền sâm đành phải biến thành màu trắng xanh. Đến những năm Khang Hy thời Thanh lại tránh kỵ húy với tên Huyền Hóa của vua Khang Hy, chỉ còn cách sửa chữ “huyền” thành “nguyên”. Huyền sâm tức giận, tự biến mình thành trước trắng sau đen. Thế là, mọi người liền đặt cho nó tên gọi là “sâm biến sắc”. Đương nhiên đây chỉ là truyền thuyết trong nhân gian. Trên thực tế, từ thời nhà Hán, với tính chất thay đổi màu sắc đã khiến cho huyền sâm có tên gọi khác là “quỷ tàng” với ý nghĩa con quỷ thay đổi mặt.

Huyền sâm do có vị mặn nên có tác dụng làm mềm rắn hóa kết, còn có vị đắng tính hàn nên có tác dụng thanh nhiệt, giải độc. Do có vị ngọt tính hàn mà có thể bổ thủy dưỡng âm; do có vị mặn tính hàn mà chất nhuận, có thể mềm cứng nhuận táo. Lại vì huyền sâm quy về thận kinh nên có tác dụng lợi thận thủy, bổ ích thận khí. Mặt khác, nó có công hiệu thanh trên thông dưới, dưỡng âm hạ hỏa, do đó có tác dụng thanh nhiệt, dưỡng âm, giải độc, tiêu trừ mụn nhọt, các triệu chứng bệnh nhiệt nóng thương âm, miệng khát lưỡi khô, ho lao, thương tân, táo bón, mắt đỏ, họng sưng, bệnh bạch hầu, những vết mụn nhọt lở loét có độc. Ngoài ra, huyền sâm có thể dưỡng âm, có tính bổ. Từ xưa cho tới nay nó luôn được coi là một vị thuốc tốt trị các chứng bệnh hậu sản.

Những phân tích dược lý của Y học hiện đại đã chứng minh, huyền sâm có thể mở rộng huyết quản, hạ huyết áp, hạ đường huyết, có tác dụng ức chế nhiều loại trực khuẩn và khuẩn hình que trên da, còn có tác dụng trung hòa độc tố bạch hầu. Tuy nhiên, huyền sâm thuộc loại thuốc vị đắng, tính hàn nên những người có tỳ, vị suy nhược, hư hàn, ăn ít, phân lỏng không nên dùng.

Phương thuốc tham khảo

Trị kết hạch ở cổ: lấy huyền sâm ngâm với rượu, mỗi ngày dùng một chút, hiệu quả rõ rệt.

Trị tràng nhạc nhiều năm không khỏi: lấy huyền sâm tươi giã nát bôi lên chỗ đau, một ngày thay thuốc 2 lần.

Trị mắt nổi mạch máu đỏ: lấy huyền sâm giã nhỏ, lấy nước vo gạo nấu với gan lợn, hằng ngày bôi lên mắt.

Trị những nốt phát ban, đau họng: huyền sâm, thăng ma, cam thảo, mỗi loại 15.6g, thêm 720ml nước nấu còn 360ml, dùng khi ấm.

Trị viêm họng cấp: huyền sâm, thử niêm tử (nửa để sống, nửa sao lên) mỗi loại 31g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, uống với 240ml nước đun sôi, sẽ nhanh chóng thấy hiệu quả.

Trị những vết lở loét trong mũi: lấy hạt huyền sâm giã nát rồi bôi lên hoặc huyền sâm sau khi ngâm mềm trong nước nhét vào trong mũi.

Trị sa tiểu tràng: lấy huyền sâm sao qua, nặn thành viên dạng viên, khi bụng đói dùng với rượu uống 4.5g, đến khi ra mồ hồi là có công hiệu.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here