Ma hoàng

0
245
views

Ma hoàng là phần thân của cây thảo ma hoàng dạng bụi cỏ hoặc mộc tặc ma hoàng phơi hay sấy khô. Vì nó có vị cay tê, màu vàng nên gọi là ma hoàng, hay còn có tên gọi khác là ty tương, long sa, ty diêm.

Ma hoàng vị đắng, tính ôn. Chủ trị đau đầu do phong hàn ngoại cảm, sốt rét, có công hiệu giải biểu phát hãn, trừ tà nhiệt, có thể cầm ho định suyễn, trừ phát sốt, sợ lạnh, tiêu tan các khối u tích tụ trong bụng.

Ma hoàng còn gọi là long ma, hoàng thảo, quy về phế kinh, bàng quang kinh. Vì vị cay có thể phát tán, tính ôn có thể tán hàn, cho nên nó có công dụng thông phế khí, ngoài thì giải biểu phát hãn, trong thì thông phế giảm ho, dưới thì lợi thủy tiêu sưng. Vì ma hoàng có khả năng phát tán rõ rệt nên được danh y các triều đại gọi là “đệ nhất giải cơ”, “giải biểu đệ nhất dược” và ứng dụng rộng rãi trong chữa trị các chứng bệnh như: ho hen tức ngực, cảm mạo phong hàn, phù thũng không có mồ hôi, hen khí quản. Ma hoàng rửa sạch phơi khô, cắt khúc được dùng nhiều để chữa chứng ngoại cảm ác hàn; khi sao cùng mật ong, nướng mật lên dùng sẽ làm giảm bài tiết mồ hôi, đồng thời còn có công hệu nhuận phế rõ rệt, có thể dùng để bình suyễn. Dược lý hiện đại đã phân tích và chứng minh, ma hoàng có thể thông qua co thắt huyết quản để tăng huyết áp, có tác dụng làm hưng phấn trung khu thần kinh, phát hãn, giáng ôn; đồng thời làm giảm bớt sự co thắt phế quản, ổn định chứng hen suyễn; kháng khuẩn, kháng độc và lợi tiểu.

Nhưng ma hoàng là loại thuốc vị cay, có công dụng phát tán, cho nên những người thể chất suy nhược, biểu hư tự hãn, âm hư đổ mồ hôi trộm, thận hư, hen suyễn tuyệt đối không được dùng. Vì ma hoàng có thể tăng huyết áp, có tác dụng làm hưng phấn trung khu thần kinh, cho nên những người bị huyết áp cao và mất ngủ càng phải cẩn thận khi dùng.

Rễ và thân rễ ma hoàng có thể dùng làm thuốc, gọi là ma hoàng căn. Công hiệu chính của ma hoàng là phát hãn, nhưng ma hoàng căn chuyên thu liễm chỉ hãn, có thể hạ huyết áp, dùng cho các triệu chứng đổ mồ hôi trộm do khí hư, do âm hư, đổ mồ hôi sau khi sinh. Có thể sắc ma hoàng lấy nước uống hoặc nghiền nhỏ bôi bên ngoài.

Phương thuốc tham khảo

Trị sốt dịch: ma hoàng 31g, cho nước vào sắc còn một nửa, bỏ bã lấy nước, cho thêm gạo, đậu vào nấu thành cháo. Đầu tiên tắm nước nóng, sau đó ăn cháo, mồ hôi toát ra là dấu hiệu tốt.

Trị mạch trầm, tiểu tiện khó: ma hoàng 125g, cho 5l nước vào sắc, vớt bọt, cho thêm 62g, đun còn 3l. Mỗi lần uống 1l. Sau khi uống thuốc đắp chăn dày cho toát mồ hôi, nếu không ra mồ hôi có thể uống thêm lần nữa. Chú ý phải tránh gió lạnh.

Trị tê thấp đau buốt: ma hoàng (bỏ rễ) 156g, quế tâm 62g. Hỗn hợp trên nghiền nhỏ, cho thêm 2l rượu, đun lửa nhỏ cô đặc lại. Mỗi lần uống 15ml với rượu nóng nếu thấy ra mồ hôi là có hiệu quả.

Trị băng huyết, đau bụng sau sinh: ma hoàng đem đốt, nghiền nhỏ. Mỗi lần uống 1 thìa. Ngày uống 2-3 lần, uống đến khi ra hết máu.

Trị đổ mồ hôi trộm, âm hãn: ma hoàng căn, bột mẫu lệ mỗi loại một ít, bôi lên người. Phương thuốc khác: ma hoàng căn, tiêu mục, mỗi loại một lượng thích hợp nghiền nhỏ. Mỗi lần uống 3g với rượu.

Chữa các chứng đổ mồ hôi trộm do hư nhược, về đêm càng nhiều hơn, người gầy yếu: hoàng kỳ, ma hoàng căn, mỗi loại 31g, cho thêm mẫu lệ (ngâm vào nước vo gạo, rửa sạch và nướng lên) chế thành thuốc tán. Mỗi lần lấy 15g, cho 480ml nước và 100 hạt tiểu mạch sắc lên uống.

Trị méo mặt, răng ngậm chặt, lưỡi cứng do trúng phong: ma hoàng 12g, phòng phong, phòng kỷ, thăng ma, quế tâm, xuyên khung, mỗi loại 6g, sừng linh dương 8g, trúc lịch 600ml. 7 vị thuốc này băm nhỏ sắc với 800ml nước và trúc lịch, sắc còn lại 300ml nước, chia làm 3 lần uống.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here