Mạch môn đông

0
383
views
mach mon dong

Mạch môn đông là phần rễ phình dạng củ của cây mạch môn đông. Là loài thực vật thân cỏ sống lâu năm thuộc họ bách hợp. Do được trồng ở bậc thềm trước cửa, nên được gọi là “môn” lá giống cây hẹ, lúa mạch, không lụi tàn vào mùa đông, do đó có tên gọi “mạch”, ”đông”.

Bản kinh có viết: mạch môn đông vị ngọt, tính bình. Chủ trị khí tích tụ ở khoang ngực bụng, do táo nhiệt tân khô khiến cho khí vị thượng thịch vị kinh không thông, mạch khí suy tận. Ngoài ra, mạch môn đông còn có tác dụng cải thiện tình trạng cơ thể suy nhược gầy yếu, trị chứng hơi thở gấp. Dùng thời gian dài giúp cho cơ thể khỏe mạnh nhanh nhẹn, làm chậm quá trình lão hóa, giảm cảm giác đói.

Đông y cho rằng, mạch môn đông vị ngọt mà kèm đắng, tính bình mà thiên về hàn. Có tác dụng bổ âm nhuận táo, thanh tâm hạ hỏa, nhuận phổi bổ dạ dày, hóa giải khí tích tụ ở khoang ngực bụng. Bổ dạ dày chính là sinh trưởng cơ bắp, thanh trừ hỏa thì có thể bổ nguyên khí. Do đó, mạch môn đông có thể cải thiện tình trạng suy nhược gầy yếu, trị chứng hơi thở gấp thiếu lực, khiến cho cơ thể tráng kiện. Trong Bản thảo cương mục có ghi: mạch môn đông còn có thể trị chứng ngũ lao thất thương; an thần, giảm ho, trị chứng phổi khô héo có mủ; nhiệt nóng phù thũng, mặt mũi, khớp tay chân sưng phù; chủ vè sinh tinh, dễ thụ thai; khiến cho cơ thể khỏe mạnh, da dẻ hồng hào.

Do có công dụng bổ âm nhuận táo rất tốt, nên mạch môn đông được ứng dụng rộng rãi trên lâm hàng hiện đại, cụ thể là: do vị thuốc này có đặc tính dưỡng âm, nhuận táo ở phổi, nên thích hợp dùng cho các chứng bệnh ho có đờm, rát họng, khô mũi, thở gấp, nôn ra máu, ho ra máu. Do nó có đặc tính dưỡng dạ dày, sinh tân, thích hợp dùng cho các chứng bệnh như tổn thương âm khí do nhiệt nóng, miệng lưỡi khô, lưỡi đỏ ít rêu do vị âm bị tốn hao. Do nó có đặt tính dưỡng dạ dày, sinh tân, thích hợp dùng cho các chứng bệnh như tổn thương âm khí do nhiệt nóng, miệng lưỡi khô, lưỡi đỏ ít rêu do vị âm bị tổn hao. Do nó có đặt tính thanh tâm trừ phiền muộn, thích hợp dùng cho các chứng tim hỏa vượng, mất ngủ, phiền muộn, tim đập nhanh và loạn nhịp. Mặt khác, còn có thể trị được các bệnh như cơ thể nhiệt nóng, buồn bực, thần trí không tỉnh táo, lưỡi đỏ mà khô. Do nó có tác dụng nhuận tràng thông tiện, mà thích hợp cho các chứng bệnh như ruột khô táo, đại tiện khó do âm hư. Ngoài ra, mạch môn đông còn có tác dụng nâng cao chức năng co bóp của tim và khả năng chống chịu tình trạng thiếu dưỡng khí. Do đó, cũng có hiệu quả trị liệu tốt đối với các chứng bệnh về tim, phổi, não.

Điều đáng chú ý là, nhiều người vẫn thường nhầm lẫn mạch môn đông với thiên môn đông. Vì 2 loại này không chỉ có tên gọi gần giống nhau, mà tác dụng dược lý cũng tương tự nhau, đều có công hiệu dưỡng âm nhuận phế. Nhưng mạch môn đông còn kiêm công dụng bồi bổ vị âm, hạ hỏa ở tim; thiên mông đông thì kiêm bổ thận âm, thường phối hợp sử dụng với tri mẫu, hoàng bá, thục địa; trị các chứng âm hư hỏa vượng, tiêu khát, di tinh…

Phương thuốc tham khảo

Trị nôn ra máu, chảy máu mũi: mạch môn đông (bỏ nhân) 500g, giã nát vắt lấy nước, thêm 300ml mật ong, khuấy đều chia làm 2 lần uống.

Trị chảy máu chân răng: dùng mạch môn đông nấu lấy nước súc miệng.

Trị miệng khác, kiết lỵ: mạch môn đông (bỏ nhân) 93g, ô mai (phần thịt) 20 quả. Tất cả đem nạo nhỏ, thêm 1l nước, đun lên còn 700ml nước thuốc dùng để uống, cho thấy hiệu quả rõ rệt.

Trị uống nhiều nước do chứng tiêu khát: mướp đắng giã lấy nước, đem ngâm với 62g mạch môn đông, để qua đêm. Sau đó vớt mạch môn đông ra bỏ nhân, giã nát, thêm hoàng liên (gọt bỏ vỏ) đã nghiền nhỏ, nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50 viên, uống sau bữa ăn. Dùng trong 2 ngày là có hiệu quả.

Trị phế vị tổn thương do khô táo, tân dịch hao tổn, họng khô miệng khát, lưỡi đỏ ít rêu: canh mạch môn đông, sa sâm: mạch môn đông 9g, sa sâm 9g, nữ ủy 6g, cam thảo 3g, lá dâu, đậu cô ve, thiên hoa phấn, mỗi thứ 5g. Các vị thuốc trên nấu nước uống.

Trị tâm phế hỏa vượng, ho do khí thượng nghịch, cổ họng khó nuốt: canh mạch môn đông: mạch môn đông 18g, đảng sâm 9g, bán hạ (nướng) 5g, gạo tẻ 15g, đại táo 4 quả, cam thảo 3g. Các vị thuốc trên nấu lấy nước uống.

Trị buồn bực, miệng khô táo do âm hư: mạch môn đông, huyền sâm, nữ ủy, mỗi loại 12g, hạt sen 10g, cam thảo 6g. Các vị thuốc trên nấu lấy nước uống.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here