Mẫu đơn

0
404
views

Mẫu đơn dùng làm thuốc còn gọi là đơn bì, là vỏ của rễ cây mẫu đơn. Ở Trung Quốc, loài hoa này được coi là quốc hoa, từ xưa đã là loài hoa nổi tiếng. Nó luôn đơn độc một mình mà không quần tụ. Truyền thuyết kể rằng mẫu đơn chống lại mệnh trời, không nở hoa vào mùa đông, vì thế mà bị đày xuống dương gian, được muôn loài biết đến.

Mẫu đơn vị cay, tính hàn. Chủ trị phát sốt, sợ lạnh, chân tay run do tai biến mạch máu não, co rút gân, co giật, động kinh do tà khí, tiêu trừ khối cứng kết tụ, ứ huyết trong ruột và dạ dày, giúp an ngũ tạng, trị ung nhọt, lở loét.

Thông thường người ta dùng rễ và vỏ mẫu đơn làm thuốc, nó có vị cay, đắng, tính hàn ít, quy về tâm, can, thận kinh, có tác dụng thanh nhiệt, làm mát máu, hoạt huyết, tiêu trừ máu ứ. Tác dụng thanh nhiệt, làm mát máu thể hiện ở chỗ nó có thể trị phát ban, chảy máu cam, các chứng huyết nhiệt. Mẫu đơn còn có mùi thơm, không chỉ có tác dụng thanh nhiệt mà còn có thể giảm nhiệt dư thừa trong máu. Nó quy về thận kinh, cho nên có thể điều trị các chứng bệnh âm hư, phát nhiệt. Tác dụng hoạt huyết, tán máu tích tụ của mẫu đơn bì thể hiện ở công dụng điều trị các chứng bệnh khí hư kèm máu, tắc kinh, kết khối rắn trong bụng, ung nhọt độc, phù thũng, lở loét, viêm loét đường ruột, bụng đau và các vết xây xát. Trên lâm sàng hiện nay, người ta còn dùng vị thuốc này để chữa cao huyết áp và viêm mũi dị ứng cho thấy hiệu quả tốt.

Mẫu đơn bì có tác dụng làm mát máu, hoạt huyết. Tuy tính hàn mà không ngưng động, tuy cay mà không quá tán, đặc biệt có tác dụng làm mát máu mà không ứ máu, hoạt huyết mà không tác động nhiều đến máu, là vị thuốc tốt để điều trị các bệnh về máu. Như Lý Thời Trân từng nói: mẫu đơn bì có thể chữa chứng huyết phân, phục hỏa ở Thủ thiếu âm, Túc thiếu âm, Thủ quyết âm tâm bao, Túc quyết âm can kinh. Phục hỏa tức là do âm hỏa, âm hỏa tức là tương hỏa. Trong các phương thuốc thời xưa phần lớn dùng mẫu đơn bì để trị tương hỏa. Trong phương thuốc thận khí hoàn của Trương Trọng Cảnh cũng có dùng. Nhưng người đời sau chỉ biết đến dùng bồ hoàng trị tương hỏa mà không biết đến công hiệu rất tốt của mẫu đơn bì. Trong Bản kinh có nhắc đến chứng “hàn trúng phong”  đều là do máu nóng gây ra, vì mẫu đơn bì có thể thanh nhiệt, làm mát máu nên có hiệu quả điều trị nhất định. Có thể tiêu trừ chứng chân tay run rẩy, co rút gân, co giật, động kinh do tà khí là vì vỏ mẫu đơn có thể trừ nhiệt trong máu. Còn công dụng trừ khối cứng trong bụng, ứ huyết trong ruột và dạ dày là do tác dụng hoạt huyết và tiêu máu ứ của mẫu đơn bì. Cũng nhờ tác dụng hoạt huyết, giúp máu lưu thông nên vị thuốc này có thể trị ung nhọt, lở loét do nhiệt nóng, máu ứ gây ra, tức là tác dụng trị ung nhọt, lở loét như trong Bản kinh đã nói đến.

Dược tính, tác dụng trị liệu và cách dùng của mẫu đơn bì có những điểm khác nhau. Mẫu đơn tươi có thể thanh nhiệt, làm mát máu, sao với rượu có thể giúp hoạt huyết, tán máu ứ, sao thành tro có thể cầm máu. Dược lý học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, mẫu đơn bì có tác dụng trấn tĩnh, thôi miên, trị chứng co giật, thanh nhiệt, hạ huyết áp, ức chế sự phát triển của vi khuẩn.

Phương thuốc tham khảo

Trị khí trướng đầy không thể cử động: lấy mẫu đơn bì, phòng phong, mỗi loại một lượng thích hợp, nghiền thành bột. Mỗi lần dùng 6g với rượu.

Trị xấu máu ở phụ nữ: lấy mẫu đơn bì, can tất, mỗi loại 15.6g. Các loại thuốc trên sắc với 480ml nước, lấy 240ml để uống.

Trị vết thương bị ứ máu: lấy 62g mẫu đơn bì, 21 con manh trùng (ruồi trâu) (rang qua). Các loại thuốc trên nghiền nhỏ. Mỗi buổi sáng dùng 1 thìa với rượu nóng.

Trị hạ bộ lở loét: lấy 1 thìa bột mẫu đơn sắc lên uống. Mỗi ngày dùng 3 lần.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here