Mẫu lệ

0
173
views

Mẫu lệ là loài động vật vỏ sò sống trong các vùng biển. Cả năm đều có thể thu hoạch. Phương pháp bào chế là bỏ vỏ, lấy thịt, rửa sạch, phơi khô, sau đó cất đi để dùng.

Bản kinh có viết: mẫu lệ vị mặn, tính bình. Chủ trị những triệu chứng nóng lạnh thất thường do nhiễm hàn khí, chứng sốt rét (lúc nóng, lúc lạnh, miệng khát, thích uống nước lạnh, lưỡi đỏ, có rêu vàng, dãn tĩnh mạch, đó là những triệu chứng chủ yếu) khiến cho cơ thể suy nhược, sợ gió; có thể tiêu trừ các chứng bệnh về tinh thần có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe như kinh hãi, nóng giận; hoãn giải chứng tay chân co quắp, trị các chứng cổ kết hạch lâu ngày dẫn tới phá vỡ chảy mủ thành rò rỉ, cũng có thể trị chứng khí hư khác thường ở phụ nữ.

Mẫu lệ tính hàn lại có chất nặng, có tác dụng lợi âm dưỡng dương, trấn tỉnh an thần; vì vị mặn tho ráp nên có tác dụng thu liễm cố sáp, làm mềm các chất ứ đọng. Công dụng dưỡng âm lợi dương chỉ mẫu lệ có thể trị chứng âm hư dẫn đến can dương xung lên. Biểu hiện chủ yếu của chứng can dương xung lên là đau đầu, chống mặt, chân tay run, cơ thể không có lực, nhức mỏi, những biểu hiện này thường thấy ở người bệnh cao huyết áp. Mẫu lệ có công dụng trấn tĩnh, an thần, do vậy có thể trị chứng bệnh thần kinh, lo lắng, mất ngủ, còn có thể thu liễm, cố sáp, thích hợp dùng cho các bệnh ra mồ hôi trộm, tiêu chảy lâu ngày không khỏi, di tinh, xuất huyết tử cung. Trong Bản thảo cương mục có ghi chép: mẫu lệ nghiền thành bột bôi lên cơ thể trị chứng ra mồ hôi trộm ở người lớn và trẻ nhỏ, trị chứng ra mồ hôi trộm do âm hư, có thể dùng kết hợp với rễ cây ma hoàng, xa sàng tử, gừng khô. Mẫu lệ còn có tác dụng làm mềm các chất cứng, làm tan những chất ứ đọng. Cái gọi là “nhuyễn kiên tán kết” là nói mẫu lệ có thể làm tiêu tan u nhọt. Do vậy, mẫu lệ thường dùng để điều trị các chứng cổ kết hạch. Ngoài ra, mẫu lệ sau khi sao có thể trị chứng ợ chua, có công hiệu giảm đau, ngừng ợ chua. Công hiệu của mẫu lệ và long cốt tương tự nhau. 2 vị thuốc này có thể sử dụng kết hợp với nhau. Nhưng mẫu lệ lấy dưỡng âm, tiêu trừ những vết sưng làm chủ; còn trấn tĩnh, an thần lại thuộc về công dụng của long cốt.

Phương thuốc tham khảo

Trị khí tâm tỳ hư, có đờm: lấy mẫu lệ đã sao qua nghiền thành bột, mỗi lần uống 6g với rượu.

Trị bệnh sốt rét lúc nóng, lúc lạnh: mẫu lệ sao lên nghiền thành bột, đỗ trọng nghiền nhỏ thêm mật ong nặn thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần dùng rượu uống 50 viên.

Trị khí hư, ra mồ hôi trộm: bột mẫu lệ, bột đỗ trọng, mỗi loại một phần bằng nhau. Mỗi lần uống 1 thìa với rượu.

Trị chứng ra mồ hôi trộm ở phụ nữ sau sinh: bột mẫu lệ, cám mạch (sao vàng), mỗi lần uống 3g với canh thịt lợn.

Trị bệnh tiêu khát: dùng đất vàng bọc kín mẫu lệ, luyện đến khi có màu đỏ, lấy thịt mẫu lệ nghiền nhỏ. Mỗi lần dùng nấu canh chung với cá chép để uống canh, mỗi lần uống 3g.

Trị chứng chảy máu cam: mẫu lệ 3g, thạch cao 1.5g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, mỗi lần dùng rượu uống 1 thìa, cũng có thể thêm mật ong nặn thành viên, 1 ngày dùng 3 lần.

Trị bí tiểu: bột mẫu lệ, hoàng bá (sao lên). Cả 2 vị thuốc nghiền thành bột, mỗi lần dùng 3g uống với nước sắc hồi hương.

Trị đi ngoài phân lỏng: bột mẫu lệ, thêm giấm, trộn đều, sau đó nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng nước cháo uống 30 viên, 1 ngày dùng 2 lần.

Trị âm nang thủy thũng: mẫu lệ (sao vàng, nghiền thành bột) 62g, gừng khô (nướng qua) 31g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, thêm nước lạnh, trộn đều, đắp lên vùng bị bệnh, lát sau thấy chỗ bị bệnh có cảm giác nóng ran, đợi thuốc khô thì thay thuốc khác, đến khi tiểu tiện được thì thôi.

Trị rong kinh: mẫu lệ (sao qua, nghiền nhỏ), cho thêm giấm gạo nặn thành viên tròn, lại sao lên, nghiền nhỏ. Tiếp theo thêm giấm gạo trộn với lá cây ngải nấu thành dạng cao, nặn thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần dùng nước sắc ngải cứu uống 40-50 viên.

Trị vết thương chảy máu do dao cắt: dùng mẫu lệ đắp lên vùng bị thương.

Trị những vết sưng do mụn mới xuất hiện: dùng bột mẫu lệ đã sao cho thêm nước trộn đều bôi lên vết sưng, khi thuốc khô thì thay thuốc khác.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here