Trạch tả

0
209
views
trach ta

trach taTrạch tả còn có tên là kiến trạch tả, là loài cây sống lâu năm trong vùng đầm lầy, họ trạch tả. Loài này phân bố ở Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Giang Tây… Thời gian thu hoạch vào mùa đông khi thân cây và lá đã khô, rửa sạch, sao khô bằng lửa nhỏ, bỏ đi phần rễ nhỏ và vỏ thô, ngâm vào nước cho mềm rồi thái lát, phơi khô là được. Có thể sao cùng trấu hoặc nước muối dưa chua.

Bản kinh có viết: Trạch tả có vị ngọt, tính hàn. Chủ trị tà khí phong, hàn, thấp, xâm nhập vào cơ thể dẫn đến bệnh phong thấp. Điều trị không có sữa hoặc ít sữa ở phụ nữ mới sinh. Có thể lợi thủy, thông tiểu tiện, bồi bổ ngũ tạng, tăng cường thể lực, giúp cơ thể khỏe mạnh, tăng khả năng chịu đói, kéo dài tuổi thọ, sức khỏe dồi dào.

Đông y cho rằng, trạch tả vị ngọt, tính hàn, có tác dụng lợi thủy; loại bỏ chứng thấp nhiệt trong thận và bàng quang. Y học hiện đại cũng nghiên cứu và chứng minh, trạch tả có tác dụng tăng cường chức năng của đường tiết niệu, đặc biệt đối với người mắc bệnh viêm thận. Thường kết hợp với bạch truật, sa nhâm…, dùng trị bệnh tiểu tiện không thông, trướng bụng, thanh lọc thận và bàng quang. Cũng có thể dùng kết hợp với cam thảo, hoạt thạch, tri mẫu, hoàng bách, dùng trị bệnh về hệ thống đường tiết niệu như lây nhiễm, kết sỏi, kết hạch, viêm tuyến tiền liệt. Trạch tả không những có tác dụng loại bỏ thấp nhiệt ở phần hạ tiêu, mà còn có tác dụng hạ thấp nhiệt ở phần trung tiêu, tránh thấp nhiệt tăng lên vùng thượng tiêu. Các thầy thuốc xưa cho rằng, thấp tà xâm nhập vào tỳ làm cho cơ thể gầy yếu, chất nước không vận hóa ứ lại, thành nhiệt, thành hòa, nội thương tình chí, dẫn đến hiện tượng mờ mắt, tai không thính. Ngày nay, trạch tả được dùng rộng rãi để trị bệnh ù tai, hoa mắt, chóng mặt (bệnh Meriere), máu nhiễm mỡ. Điều này cũng chứng minh công dụng của trạch tả được viết trong Bản kinh, đó là làm cho con người mắt tinh, tai thính.

Bản kinh cho rằng, trạch tả có thể dưỡng ngũ tạng, dùng trong thời gian dài giúp cơ thể khỏe mạnh, trên thực tế không phải như vậy. Mặc dù trạch tả có tác dụng trục thấp nhiệt trong tỳ, vị, khiến cho thanh khí trong hành lên trên, tăng cường chức năng của ngũ tạng, trị chứng hoa mắt, chóng mặt. Tuy nhiên, trạch tả lại không phải là một loại thuốc bổ, dùng lâu với lượng lớn dẫn đến tình trạng khí huyết khó lưu thông, khí thanh trong không hành lên trên được, dẫn đến chân âm tổn hao, thậm chí còn làm mù mắt, điếc tai.

Phương thuốc tham khảo

Trị chứng trướng bụng: bạch truật, trạch tả, mỗi loại 31g. 2 vị thuốc trên nghiền mịn, nặn thành viên. Mỗi lần dùng 9g với canh phục linh.

Trị nôn mửa chóng mặt, khát nước, bí tiểu: trạch tả, bạch truật, bạch phục linh, mỗi loại 9g, cho bào 240ml nước, 5 lát gừng, cỏ bấc đèn 10 cây, sắc lấy nước uống, uống khi còn ấm.

Trị chứng hoa mắt, chóng mặt: trạch tả 15g, bạch truật 6g, sắc xong chia 2 lần uống.

Trị hư lao, tắc nghẽn khí ở bàng quang, tiểu tiện nhiều: canh trạch tả: trạch tả 30g, mẫu đơn bì, quế, vỏ cây du, mỗi loại 1g, xích phục linh 30g, mộc thông 30g. Các loại dược liệu trên nghiền nhỏ, mỗi lần lấy 10g, uống ấm trước khi ăn cơm.

(Tài liệu dẫn: Thần Nông bản thảo kinh – Đào Ẩn Tích – Chu Tước Nhi dịch)

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here