Tỳ giải

0
156
views

Tỳ giải là thân rễ khô của cây nần nghệ, loài thực vật dây leo nhiều năm thuộc họ củ nâu (Dioscoreaceae), sinh trưởng trong điều kiện khô nóng. Lá của nó mọc đối nhau, có phân ra loại đực và cái; rễ có lông đâm ngang, hình tròn, có màu vàng gụ.

Tỳ giải vị đắng, tính bình. Chủ trị phong hàn tê thấp toàn thân, đau lưng, các khớp xương có duỗi khó khăn, cũng có thể dùng để điều trị các vết lở loét ác tính lâu ngày không khỏi và các triệu chứng phát nhiệt bốc hỏa.

Những nhà Y học cổ đại cho rằng, “Tỳ giải có thể trừ thấp, trị phong hàn”. Có thể thấy rằng, công hiệu chủ yếu của tỳ giải là trừ thấp, bên trong có thể lợi thấp mà tiêu trừ được các chứng ứ trệ; bên ngoài có thể trục phong trừ thấp, thông kinh lạc, cắt cơn đau.

Có thể tiêu trừ các chứng cao lâm, bạch trọc, khí hư quá nhiều, đặc biệt có công hiệu tốt trong việc điều trị các chứng lưng gối sưng đau, co duỗi khó khăn. Bất luận là cơ thể thiên về hàn hay nhiệt đều có thể sử dụng, trong đó thích hợp nhất với các chứng do thấp nặng với triệu chứng chính là cơ thể và tứ chi nặng nề, tê bì, lưng, đầu gối đau mỏi.

Tỳ giải có thể phân thành 2 loại bột tỳ giải và bông tỳ giải, 2 loại này công hiệu tương tự nhau. Chỉ là bột tỳ giải thiên về lợi thấp trị tiểu đục; bông tỳ giải lại thiên về tán phong trừ thấp. Những nghiên cứu của Y học hiện đại đã chứng minh, tỳ giải có những thành phần có ích, có tác dụng kháng chân khuẩn; còn giúp mở rộng mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường sự vận động của dạ dày, đường ruột và cơ bàng quang, tăng lượng đường máu, giảm cholesterol. Ngoài ra, tỳ giải còn có thể trị mụn nhọt độc do thấp nhiệt gây nên. Cần lưu ý là những người âm hư hỏa vượng, đau lưng do thận suy không nên dùng vị thuốc này.

Phương thuốc tham khảo

Trị lưng, chân tê bì, đi lại khó khăn: tỳ giải 7.5g, đỗ trọng 2.5g, giã nát. Mỗi ngày vào sáng sớm dùng rượu ấm uống 5g, kiêng ăn thịt bò.

Trị tiểu tiện nhiều: lấy tỳ giải 500g, nghiền nhỏ thành bột, thêm rượu và cháo loãng nặn thành viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi ngày dùng rượu muối uống 70 viên.

Trị trường phong trĩ lậu: tỳ giải, quán chúng (bỏ đất), nghiền thành dạng bột. Mỗi ngày uống 9g với nước ấm khi đói.

Trị đau đầu ra mồ hôi: tỳ giải, tuyên phục hoa, hổ đầu cốt (nướng giòn). Tất cả các vị thuốc trên nghiền nhỏ, khi bệnh sắp phát tác uống 6g với rượu ấm, đắp chăn cho toát mồ hôi.

Trị ngũ lao thất thương: tỳ giải, chung nhũ phấn, mỗi loại 0.75g, gừng tươi 2.25g, ba kích thiên, thỏ ty tử, thung dung, mỗi loại 1.5g. Tất cả đem nghiền nhỏ, thêm mật ong nặn thành viên bằng hạt ngô, ngày uống 3 lần mỗi lần 7 viên với rượu ấm, kiêng ăn chất béo.

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here