Viễn chí

0
256
views
vien chi

vien chiViễn chí là rễ của cây viễn chí lá kim, còn có tên gọi khác như yêu nhiễu, cắc uyển. Lá viễn chí được gọi là tiểu thảo. Người xưa cho rằng, loại thảo dược này có thể tăng cường trí nhớ, cải thiện ý chí, do đó mới có tên là “viễn chí”.

Bản kinh có viết: viễn chí vị đắng, tính ôn. Trị ho do khí trào ngược, các bệnh làm tổn thương tạng phủ, bồi bổ chứng bệnh suy nhược, loại trừ các nhân tố gây bệnh, cải thiện chức năng của cửu khiếu trong cơ thể, giúp sáng mắt, thính tai, có tác dụng an thần, tăng cường tâm trí, cải thiện trí nhớ. Đồng thời còn có thể nâng cao thể chất, tăng cường sức đề kháng. Dùng lâu dài giúp cho cơ thể nhanh nhẹn, kéo dài tuổi thọ.

Người xưa cho rằng, chức năng của tim, não có mối quan hệ rất mật thiết với thận. Thận chủ chí, thận tính yếu sẽ dẫn đến chí khí suy nhược, khí thận không vào được tim, mà tim, thận không tương giao sẽ ảnh hưởng đến chức năng cơ quan đầu não tim, dẫn đến chứng hay quên, đãng trí. Viễn chí bổ thận âm, có thể bổ sung tinh chất còn thiếu cho thận, có thể dùng an thần, ích trí, cường chí. Y học hiện đại đã phân tích và chứng minh, thành phần hóa học chứa trong viễn chí có tác dụng an thần, gây buồn ngủ, chống hoảng sợ, hạ huyết áp. Vì vậy, viễn chí có tác dụng trị liệu rõ rệch đối với các chứng bệnh hồi hộp, mất ngủ, hay quên, mộng tinh. Về Y học lâm sàng, chứng bệnh hồi hộp, mất ngủ do tim, thận không tương giao gây ra; thường dùng kết hợp viễn chí với phục linh, dạ giao đằng, địa hoàng, ngũ vị tử để điều trị. Đối với các chứng bệnh như: trí nhớ giảm sút, hay quên, mất tập trung do tim, thận yếu gây nên thường dùng kết hợp viễn chí với thạch xương bồ, mai rùa, long cốt, bá tử nhân, ngũ vị tử để điều trị.

Trong Bản khi có ghi: viễn chí còn có tác dụng tiêu đờm. Y học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, viễn chí chứa các thành phần hóa học có tác dụng trị liệu tốt như: tiêu đờm, kháng khuẩn, điều trị ho có nhiều đờm, đờm kết đặc khó long. Ngoài ra, viễn chí còn có tác dụng tiêu mụn nhọt, như mụn gẻ độc, u vú. Dùng rượu viễn chí bôi vào chỗ bị bệnh cũng có hiệu quả rất tốt. Y học lâm sàng hiện đại còn dùng riêng viễn chí để trị bệnh viêm tuyết vú và đã đạt được những hiệu quả đáng ghi nhận.

Phương thuốc tham khảo

Điều trị chứng hay quên: lấy viễn chí nghiền thành bột uống.

Trị đau ngực, khí trào ngược, khó nuốt: mầm viễn chí, gừng khô, quế, tế tân, thục tiêu (sao qua), mỗi loại 93g, phụ tử (đã sao) 0.69g. Các vị thuốc trên giã nhỏ, trộn cùng với mật ong nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng 3 viên với cháo loãng, mỗi ngày 3 lần, nếu không có hiệu quả có thể tăng lượng thuốc. Kiêng ăn thịt lợn, nước lạnh, hành tươi.

Trị bệnh viêm họng: lấy viễn chí tán nhỏ, thổi vào chỗ đau, đắp đến khi có nước chảy ra.

Trị đau đầu: hít bột viễn chí vào mũi.

Trị u vú: viễn chí sấy khô và nghiền nhỏ, dùng 6g viễn chí ngâm vào rượu lấy bã đắp vào chỗ đau.

Chữa mụn nhọn: lấy viễn chí ngam vào nước vo gạo, vớt ra rửa qua, bỏ nhân, nghiền nhỏ. Mỗi lần dùng 9g, ngâm trong 120ml rượu ấm gạn lấy nước trong để uống, lấy bã đắp vào chỗ đau.

(Tài liệu dẫn: Thần Nông bản thảo kinh – Đào Ẩn Tích – Chu Tước Nhi dịch)

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here