Xương bồ

0
270
views

Xương bồ là thân rễ của cây thạch xương bồ. Cây này thường mọc ở cạnh khe suối, lá giống hình chiếc kiếm, cho nên còn được gọi là “thủy kiếm thảo”. Người xưa thường ca ngợi khí phác của xương bồ “không nhờ mặt trời, không một tấc đất, không kể xuân thu”. Xương bồ và 3 loại hoa: hoa lan, hoa cúc, thủy tiên được gọi chung là “Hoa thảo tứ nhã”.

Bản kinh có viết: xương bồ vị cay tính ôn. Chủ trị các độc tố như: phong, hàn, thấp gây nên các chứng bệnh phong thấp, cũng thích hợp cho việc điều trị ho, hen suyễn. Xương bồ có công dụng rất tốt trong việc giúp đầu óc tỉnh táo, gợi mở thần trí; có thể cải thiện chức năng cửu khiếu, khiến cho tai thính, mắt sáng và điều trị các nguyên nhân gây nên chứng mất giọng. Nếu người bệnh uống trong thời gian dài có hiệu quả tăng cường trí nhớ, giúp tỉnh táo, phòng chống đãng trí, từ đó kéo dài tuổi thọ.

Bản kinh có ghi chép công dụng của xương bồ khái quát thành 5 lĩnh vực, đó là nó có thể trị bệnh phong thấp, tiêu đờm, thông huyệt, ích trí, và bồi bổ cơ thể. Bản thảo cương mục cho rằng: xương bồ có thể trị các “chứng phong”, tức là trị được bệnh do thay đổi thời tiết, biểu hiện là các chứng bệnh điển hình trên cơ thể, chi khớp. Xương bồ vị cay, tính ôn, có thể thông tan, trừ phong hóa thấp, hoạt huyết trục hàn, do đó có thể trị đợc bệnh phong thấp.

Bản thảo cương mục còn cho rằng, xương bồ có thể diệt được các loại ký sinh trùng, đây cũng là lý do mà xương bồ có hiệu quả cao trong việc trị phong thấp. Xương bồ vị cay, tính ôn có lợi cho việc tiêu đờm thông huyệt, nuôi máu, trị phong thấp, có lợi tiêu hóa. Ngày nay, dược liệu này còn được dùng để điều trị các bệnh trúng phong, động kinh, thần kinh, đầu óc mất tỉnh táo và các chứng bệnh đãng trí, ù tai, điếc do ứ đọng đờm gây tắc nghẽn. Đồng thời có hiệu quả rõ rệt trong việc điều trị bệnh động kinh. Ngoài ra, xương bồ còn được dùng để điều trị chứng bệnh tức ngực, ăn không tiêu và bệnh kiết lỵ.

Xương bồ còn có công dụng bồi bổ cơ thể. Trong bản thảo cương mục có ghi chép: xương bồ có công dụng tái tạo máu, bỗ não tủy, tráng cốt, bồi bổ lục phủ ngũ tạng, điều trị các chứng bệnh ngũ lao thất thương, tiêu hóa, làm chắc răng, sáng mắt, làm cho tinh thần hưng phấn, còn có thể dưỡng ẩm cho da, có hiệu quả trong việc làm đẹp. Ngoài ra, xương bồ còn được dùng để làm rượu. Rượu xương bồ đã có lịch sử hơn 2000 năm. Để làm ra rượu xương bồ, cần phải lựa chọn xương bồ 9 đốt, hơn nữa phải chọn loại ở trên đỉnh núi Lịch Sơn, nơi cao hơn 2000m so với mực nước biển, thuộc huyện Thản Khúc, tỉnh Sơn Tây. Thời gian sắc thuốc cần tuân thủ quy định chặt chẽ, công đoạn chế tác rượu rất cầu kỳ và chi tiết, màu sắc phải có màu vàng cam trong suốt, có mùi thơm, đặc biệt là có hiệu quả cao trong việc điều trị lão hóa, phòng chóng bệnh tật. Những điều này đã làm nên danh tiếng cho rượu xương bồ, là vị thuốc bổ được ngự dùng trong hoàng cung. Cho đến nay, xương bồ đợc dùng làm đồ uống ngày càng trở nên phổ biến, được gọi là “rượu ngon thiên cổ”.

Phương thuốc tham khảo

Trị bệnh trướng bụng, đầy hơi, ăn không tiêu, tụ huyết: thạch xương bồ (tán nhỏ) 250g, bọ cánh cứng vằn (thường gọi là ruồi Tây Ban Nha, bỏ chân, cánh) 125g. Sau khi sao vàng, bỏ bọ cánh cứng vằn đi, còn lại nghiền thành bột, cho thêm giấm, tương nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 30-50 viên với nước ấm

Trị ho ra máu: xương bồ 9 đốt (nghiền nhỏ), bột mì, mỗi loại một ít. Hỗn hợp trên trộn đều, mỗi lần uống 9g với nước lọc, ngày uống 1 lần.

Trị tiêu chảy: thạch xương bồ, phá cố chỉ, mỗi loại một ít. Cho hỗn hợp vào sao lên nghiền thành bột. Mỗi lần uống 6g, hoặc cho vào ngâm rượu và dùng dần, ngày uống 1 lần.

Trị xuất huyết hậu sản: xương bồ 47g, cho thêm 480ml rượu, sắc còn 240ml, bỏ bã. Ngày uống 3 lần, uống trước khi ăn với nước ấm.

Điều trị bị điếc do mắc bệnh: Lấy nước xương bồ nhỏ vài giọt vào tai.

Trị mê man do trúng phong: xương bồ, gừng tươi, mỗi loại một ít. Hỗn hợp trên giã nát, lọc bỏ bã, lấy nước uống.

(Tài liệu dẫn: Thần Nông bản thảo kinh – Đào Ẩn Tích – Chu Tước Nhi dịch)

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here